Giáo án Tìm Hiểu Yếu Tố Biểu Cảm Trong Văn Nghị Luận

Thứ bảy , 13/05/2017, 15:50 GMT+7
     

Tiết 108: TLV:

TÌM HIỂU YẾU TỐ BIỂU CẢM TRONG VĂN NGHỊ LUẬN

 

Tổng hợp giáo án hay: GIÁO ÁN NGỮ VĂN HAY

A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT: Giúp HS:

          1. Kiến thức: Lập luận là phương thức biểu đạt chính trong văn nghị luận. Biểu cảm là yếu tố hỗ trợ cho lập luận, góp phần tạo nên sức lao động, truyền cảm của bài văn nghị luận.

           2. Kĩ năng: Nhận biết yếu tố biểu cảm và tác dụng của nó trong bài văn nghị luận. Đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận hợp lí, có hiệu quả, phù hợp với lô-gíc lập luận của bài văn nghị luận.

B. CHUẨN BỊ:

          1. Giáo viên:     -  Xem sgk, sgv, sbt, thiết kế bài giảng

                                       - Tìm thêm các đoạn văn, bài văn minh hoạ thích hợp.

          2. Học sinh:       - Xem sgk, sbt.

                                       - Trả lời câu hỏi – Tìm hiểu bài.

                                       - Tìm hiểu các ví dụ trong thực tế cuộc sống.

C.TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY-HỌC:

* Hoạt động 1: Khởi động

1. Ổn định lớp:

8A: …………………………………………………………………

                             8B: …………………………………………………………………

2. Kiểm tra bài cũ:

          Kiểm tra vở của học sinh.

3. Bài mới:

           Ta đã biết yếu tố biểu cảm được thể hiện rõ nhất trong bài văn nghị luận là ở từ, ngữ, câu cảm, giọng điệu lời văn. Nhưng có thật chỉ có như vậy không? Làm thế nào để có cảm xúc, tình cảm và biểu hiện ra khi viết văn nghị luận như thế nào? Biểu cảm trong văn nghị luận có giống như biểu cảm trong văn biểu cảm không? Đó là nội dung của bài học hôm nay.

* Hoạt động 2: Hình thành kiến thức mới:

 

Hoạt động của thầy và trò

Nội dung kiến thức cần đạt

 

- Gọi HS đọc văn bản Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến

- Hãy tìm những từ ngữ biểu lộ tình cảm mãnh liệt của tác giả và những câu cảm thán trong văn bản trên.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Tại sao Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến có nhiều yếu tố biểu cảm nhưng vẫn là văn bản nghị luận?

(Bởi nó không nhằm mục đích biểu cảm, trữ tình mà nhằm mục đích nghị luận: nêu luận điểm, trình bày các luận cứ để bàn luận, giải quyết vấn đề, tác động mạnh vào trí tuệ của người đọc, để người đọc phân biệt được đúng sai, xác định hành động và cách sống.)

? Việc sử dụng từ ngữ và đặt câu có tính chất biểu cảm, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của CT HCM có giống với Hịch tướng sĩ của TQT ko?

(Có, giống nhau ở chỗ có nhiều từ ngữ và nhiều câu văn có giá trị biểu cảm)

- Quan sát bảng đối chiếu c, sgk/96, từ đó rút ra vai trò của yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận.

(Nếu tước bỏ những từ ngữ biểu cảm, những câu cảm thì bài văn nghị luận sẽ vẫn đúng nhưng khô khan, khó có thể gây xúc động, truyền cảm, hấp dẫn người đọc.)

GV: Biểu cảm là yếu tố có khả năng “gây được hứng thú hoặc cảm xúc” đẹp đẽ, mónh liệt hoặc sõu lắng nhiều nhất, nghĩa là cú khả năng nhiều nhất trong việc làm nên cái hay cho văn bản.

? Yếu tố biểu cảm cú vai trò gỡ trong văn nghị luận?

 

GV: Thiếu yếu tố biểu cảm, sức thuyết phục của văn nghị luận nhất định bị giảm đi. Nhưng có phải cứ có yếu tố biểu cảm – bất kể yếu tố đó thế nào – là sức thuyết phục của một văn bản nghị luận sẽ mạnh mẽ lên không? (Ko)

? Làm thế nào để phát huy hết tác dụng của yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận?

? Người làm văn có phải thật sự xúc động trước từng điều mình đang nói tới?

GV: Trong văn nghị luận yếu tố biểu cảm chỉ đóng vai trò phục vụ cho cụng việc nghị luận. Bởi thế, yếu tố biểu cảm trong một bài văn nghị luận sẽ không được xem là có giá trị, là đặc sắc, nếu nó làm cho mạch nghị luận của bài văn bị phá vỡ, quá trình nghị luận bị đứt đoạn, quẩn quanh.

 

? Để viết được những câu văn như: “Ko! chúng ta thà hi sinh tất cả…” hay “uốn lưỡi cú diều…” người viết phải có phẩm chất gỡ khỏc?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

? Có phải càng dùng nhiều từ ngữ biểu cảm, càng đặt nhiều câu cảm thán thì giỏ trị biểu cảm trong văn nghị luận càng tăng? í kiến ấy có đúng không? Vỡ sao?

 

 

 

 

 

 

H/s đọc ghi nhớ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Xác định yếu tố biểu cảm trong các đoạn văn nghị luận.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Viết đoạn văn nghị luận có kết hợp các yếu tố biểu cảm.

 

I. Yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận:

1. Ngữ liệu: SGK/95-96

2. Nhận xét:

* NL 1:

- Từ ngữ biểu cảm: hỡi, muốn, phải, nhân nhượng, lấn tới, quyết tâm cướp, không, thà, chứ nhất định không chịu, phải đứng lên, hễ là, thì, ai cú, dựng, ai cũng phải.

­- Câu cảm thán:

+ Hỡi đồng bào và chiến sĩ toàn quốc

+ Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!

+ Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân! Thắng lợi nhất định về dân tộc ta!

+ Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!

+ Kháng chiến thắng lợi muôn năm!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

-> Vai trò: Yếu tố biểu cảm giúp cho văn nghị luận có hiệu quả thuyết phục lớn hơn, tác động mạnh mẽ tới tình cảm của người đọc.

* NL 2:

 

 

 

 

 

 

-> Người viết ko cần suy nghĩ đúng, nghĩ sâu về các vấn đề, luận điểm, luận cứ, lập luận… mà cũn phải thật sự xúc động, có tình cảm với những điều mình viết. Tình cảm đó ko thể là những xúc động nhất thời, hời hợt  mà phải chân thành, thành thật, tự nhiên và sâu sắc, mạnh liệt dự đó là tình yêu hay lòng căm thù. Ko chấp nhận những tình cảm nửa vời, nhàn nhạt hay thờ ơ, lạnh đạm. Đó phải là tình cảm xuất phát từ đáy lòng, từ trái tim người viết. Như nhà văn Lỗ Tấn đó viết: “Từ trong mạch nước chảy ra toàn nước; từ trong mạch máu chảy ra toàn máu.”

-> Chỉ có tình cảm, cảm xúc nồng cháy hay sâu sắc, chân thật vẫn chưa đủ mà cần phải biết và rốn luyện cách biểu cảm. Nghĩa là biểu hiện tình cảm, cảm xúc trong bài văn nghị luận sao cho phù hợp, ko phá vỡ mạch lập luận. Biểu cảm trong văn nghị luận ko hoàn toàn giống trong văn tự sự, miêu tả hay biểu cảm đơn thuần. Biểu cảm trong nghị luận nó phải hoà vào trong luận cứ, luận chứng, làm nổi bật và khắc sâu luận điểm trong lũng người nghe. Nó diễn tả cảm xúc bằng các phương tiện ngôn ngữ có tính truyền cảm, có hình ảnh nhưng vẫn không quên nhiệm vụ chủ chốt là từng bước giải quyết vấn đề trên cơ sở làm sáng tỏ hệ thống luận điểm.

-> Ko, ngược lại, nếu dùng quá nhiều mà không phù hợp, sẽ biến bài văn nghị luận thành lí luận dông dài, không đáng tin cậy, hoặc làm giảm bớt sự chặt chẽ trong mạch lập luận, thậm chí phá vỡ lô-gíc luận chứng. Cuối cùng có thể làm bài văn nghị luận xa  rời thể loại, lạc sang văn biểu cảm đơn thuần. Biểu cảm chỉ là yếu tố phụ trợ, khong được làm giảm đặc trưng của nghị luận cả về nội dung cũng như hình thức.

* Ghi nhớ: SGK/97

II. Luyện tập:

1. Bài tập 1/97.

- Giễu nhại, đối lập:

+ D/c: Tờn da đen bẩn thỉu, An-nam-mít bẩn thỉu, con yêu, bạn hiền, chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do…đều là cách xưng gọi của bọn thực dân trước và sau chiến tranh.

+ T/d nghệ thuật: Trước thì miệt thị, khinh bỉ, sau thì đề cao một cách bịp bợm. Sự nhại lại các lời văn ấy và đem đối lập chúng với nhau đó phơi bày giọng điệu dối trá của TD, tạo hiệu quả mỉa mai.

- Dùng từ ngữ, h/ả mỉa mai bằng giọng điệu tuyên truyền của TD:

+ D/c: Nhiều người bản xứ đó chứng kiến cảnh kỡ diệu của trò biểu diễn khoa học về phúng ngư lôi, đó được xuống tận đáy biển để bảo vệ tổ quốc của các loài thuỷ quái. Một số khác đó bỏ xỏc tại những miền hoang vu thơ mộng, vùng Ban-căng…

+ T/d nghệ thuật: Những ngôn từ hào nhoáng, mĩ miều, đẹp đẽ không che đậy được thực tế phũ phàng. Lời mỉa mai đó thể hiện thái độ khinh bỉ sâu sắc đối với giọng điệu tuyên truyền của bọn thực dân, và cả sự chế nhạo, cười cợt. Yếu tố biểu cảm đó tạo hiệu quả nghệ thuật về tiếng cười châm biếm sâu cay.

2. Bài tập 2/97-98.

Trong đoạn văn, tác giả không chỉ phân tích điều thiệt hơn cho học trò, để họ thấy tác hại của việc học tủ và học vẹt. Người thấy ấy cũn bộc bạch nỗi buồn và sự khổ tâm của một nhà giỏo chõn chớnh trước sự xuống cấp trong lối học văn và làm văn của những h/s mà ông thật sự quý mến.

- Từ ngữ biểu cảm, câu cảm, giọng điệu tâm tình, thân mật, gần gũi: Tôi muốn nói với các bạn câu chuyện…luụn thể giói bày hết nỗi khổ tâm của người anh các bạn đó đeo một cái nghiệp vào người…Nỗi buồn thứ nhất là…Nói làm sao cho các bạn hiểu…nhấm bút, lôi thôi bày đặt, học thuộc như con vẹt…

-T/d: người nghe, đọc tin, phục, thấm thía.

3. Bài tập 3/98:

- Về lớ lẽ, d/c: làm rừ tỏc hại của hai lối học này, d/c cụ thể.

- Yếu tố biểu cảm: bày tỏ tình cảm đáng tiếc cho lối học vô bổ, không có tác dụng mở mang trí tuệ, trau dồi kiến thức (học vẹt) và lối học cầu may (học tủ).

* Hoạt động 3: Củng cố -Dặn dò:

- Gọi HS đọc lại ghi nhớ.

- GV chụt lại nội dung bài học.        

          - Học bài, làm bài tập.

          - Chuẩn bị bài Đi bộ ngao du.

Giáo án Đi bộ ngao du

Học Photoshop: Hướng dẫn sử dụng Photoshop để chỉnh sưa hình ảnh

van nghi luan giao an lop 8 ngu van 8 giáo an dien tu