Mạng xã hội và ONTOLOGY FOAF

Thứ hai , 15/05/2017, 07:37 GMT+7
     

Bài trước chúng ta đã đi qua vấn đề:

                                                               Bài 1: Thương mãi điện tự ứng dụng Ontology

1.     Khái niệm mạng xã hội

          Mạng xã hội [2] là một cộng đồng trực tuyến dựa trên Web, bao gồm con người (cá nhân, tổ chức hoặc các thực thể xã hội khác) được liên kết bởi một tập các mối quan hệ xã hội như bạn bè, đồng nghiệp, anh em hoặc quan hệ với mục đích trao đổi thông tin.

         Mạng xã hội có một số tính chất sau [2]: (1) có thể truy cập thông qua một trình duyệt web; (2) người sử dụng cần phát biểu rõ ràng về các mối quan hệ với người khác; (3) hệ thống phải có các chức năng phần mềm hỗ trợ người sử dụng kết nối và tạo quan hệ xã hội; (4) các mối quan hệ phải được duyệt và hiển thị. Tính chất mạng xã hội có thể được phản ánh trong một cộng đồng trực tuyến. Ví dụ, Club Nexus là một cộng đồng trực tuyến phục vụ hơn 2000 sinh viên trường đại học Stanford. Ở đó, sinh viên có thể liên lạc và chia sẻ với nhau về các sự kiện sắp xảy ra, thông tin mua và bán hàng, tìm kiếm những người có cùng mối quan tâm, sở thích, ...

Mạng xã hội và Web có ngữ nghĩa hỗ trợ cho nhau: Web có ngữ nghĩa định nghĩa thông tin xã hội theo cách rõ ràng và hình thức thông qua việc sử dụng ontology. Mô hình mạng xã hội cho phép truy cập và thu nhận tri thức thông qua việc sử dụng mạng xã hội. Mạng xã hội và Web có ngữ nghĩa được kết hợp tạo thành mạng xã hội có ngữ nghĩa (semantic social networks).

2.    Ontology FOAF

          FOAF là một ontology có cấu trúc đơn giản, mô tả con người và thông tin cá nhân như tên, email,… cũng như các quan hệ xã hội với người khác như bạn bè, đồng nghiệp, giao dịch kinh doanh,… Có thể chia các đặc tả trong FOAF thành 5 loại: thông tin cơ bản, thông tin cá nhân, các tài khoản liên lạc trực tuyến (email, chat,..), các dự án và nhóm làm việc, cuối cùng là tài liệu và ảnh.

         Trung tâm của từ vựng FOAF là lớp foaf:Person, và tất cả các thông tin liên quan đến cá nhân đều được nhóm vào lớp này. Các thuộc tính được sử dụng phổ biến là tên người (foaf:name), địa chỉ thư điện tử (foaf:mbox), liên kết tới trang web cá nhân (foaf:homepage), mô tả (foaf:description) và đặc biệt là thuộc tính mô tả quan hệ giữa các cá nhân (foaf:knows). Trong FOAF, con người và các mối quan hệ có thể được mô tả theo các nguyên tắc sau: (i) mỗi người được biểu diễn như một thể hiện của foaf:Person và được gán một URI; (ii) một người có nhiều thuộc tính như tên (foaf:name), nickname (foaf:nickname) hoặc ngày sinh (foaf:birthday),...; (iii) con người có thể liên hệ với nhau qua thuộc tính foaf:knows.

         Một số tính chất và lợi ích sử dụng của ontology FOAF đối với mạng xã hội và cộng đồng trực tuyến [2] như sau

        Khả năng cơ động (portability): “Khả năng cơ động” là thuật ngữ mô tả khả năng sử dụng lại hồ sơ của một người trên nhiều mạng xã hội. Từ vựng FOAF biểu diễn thông tin về con người và mối quan hệ trong mạng xã hội theo cách chia sẻ và máy tính có thể xử lý về ngữ nghĩa.

       Tính chất mở: Từ vựng định nghĩa trong FOAF có cấu trúc đơn giản và đóng vai trò là cơ sở để phát triển các ứng dụng cụ thể. Ví dụ thuộc tính foaf:knows mô tả mối quan hệ giữa các cá nhân. Nếu muốn mô tả quan hệ chính xác hơn như bạn bè, đồng nghiệp, ... có thể xây dựng thuộc tính quan hệ mới là thuộc tính con của foaf:knows.

       Định danh: Xác định con người thông qua một số thuộc tính định danh như foaf:mbox, foaf:mbox_sha1sum,... là các thuộc tính duy nhất thuộc về một thể hiện của lớp foaf:Person. Qua việc so khớp các giá trị định danh duy nhất, ta có thể thu được quan hệ đồng nhất giữa các cá nhân thuộc về nhiều hệ thống khác nhau, và hợp nhất các hệ thống này lại để hình thành một mạng xã hội lớn.

         Quan hệ: Thuộc tính foaf:knows mô tả mối quan hệ giữa các cá nhân và hình thành một mạng xã hội trong cộng đồng. Hai thuộc tính foaf:knows và rdfs:seeAlso được kết hợp để liên kết các tài liệu FOAF.

vLiên kết con người theo sở thích: Xác định những nhóm người có mối quan tâm hoặc sở thích chung bởi thuộc tính foaf:interest.

vHỗ trợ lọc email: Từ vựng FOAF hỗ trợ việc lọc email theo sự ưu tiên (prioritizing) dựa trên các mối quan hệ cá nhân. Sử dụng các cấp độ tin cậy dẫn xuất từ FOAF file, con người có thể nhận mail ưu tiên và sau đó lọc các mail với giá trị tin cậy thấp.

Một ví dụ ứng dụng của cổng thông tin cộng đồng

Cổng thông tin cộng đồng có thể được xây dựng theo nhiều lĩnh vực mang tính đặc thù riêng. Một số lĩnh vực phổ biến của các cổng thông tin tại Việt Nam như giáo dục và đào tạo, y tế, giải trí và khoa học công nghệ.

Giống như các cổng thông tin được xây dựng trên nền tảng của các hệ quản trị nội dung [8], BKEduPortal cung cấp các kênh thông tin khác nhau đã được biên tập về giáo dục và đào tạo. BKEduPortal hỗ trợ chia sẻ tài liệu theo hai phương pháp:(1) hệ thống tự động tạo tài nguyên chia sẻ. Ví dụ, hệ thống tự động thu thập tài nguyên giáo dục như các sách điện tử, bài giảng từ các hệ thống đào tạo trực tuyến, các học viện, trường đại học, các thư viện điện tử,…;(2) người sử dụng đóng góp tài liệu cho cộng đồng theo lĩnh vực chủ đề đã được mô hình hóa trong hệ thống. Có hai cách tìm kiếm tài liệu trong kho lưu trữ tài liệu của BKEduPortal:(i) người sử dụng duyệt danh mục tài liệu theo các chủ đề thuộc một miền lĩnh vực; và (ii) tìm kiếm nhanh theo chủ đề. Trong hai cách trên, có thể kết hợp tìm theo chủ đề và kiểu tài liệu để thu hẹp phạm vi tìm kiếm. Ngoài ra, BKEduPortal còn có chức năng tư vấn về giáo dục đào tạo như lựa chọn ngành nghề, trường đại học, tư vấn du học, … Cuối cùng, BKEduPortal có chức năng của một mạng xã hội phục vụ cộng đồng: gắn kết những thành viên có cùng sở thích, lĩnh vực chủ đề quan tâm, …, cho phép các thành viên liên lạc, trao đổi, chia sẻ thông tin như kinh nghiệm làm việc, thông tin tuyển dụng, các trung tâm đào tạo có chất lượng, …

       Mục đích sử dụng ontology trong BKEduPortal là giúp mô hình hóa dễ dàng các tri thức chung trong từng lĩnh vực (các chủ đề học tập, danh mục ngành nghề, chuyên môn học tập,…), các nguồn tài nguyên (tài liệu học tập, các câu hỏi thường gặp,…) được chia sẻ trong cộng đồng người sử dụng. Ngoài ra ontology còn được sử dụng để mô hình hóa các loại đối tượng sử dụng khác nhau trong cộng đồng người sử dụng để tạo thành một mạng xã hội, qua đó chúng ta có thể xác định được các chuyên gia và mối quan hệ của họ trong một lĩnh vực. Mộtnhóm các chuyên gia hay còn gọi là kỹ sư tri thức sẽ chịu trách nhiệm xây dựng và cải tiến lược đồ ontology. Cơ sở tri thức dựa trên ontology của hệ thống có thể được cập nhật theo hai phương thức chính: (i) người sử dụng đăng nhập và sử dụng trực tiếp các chức năng (giao diện) của cổng thông tin giáo dục để tạo tri thức chia sẻ; và (ii) nguồn tri thức chia sẻ có thể được thu thập tự động từ các hệ phân hệ hỗ trợ mô tả ngữ nghĩa tài nguyên học tập dùng ontology (hệ thống hỗ trợ xuất bản tài liệu học, thông tin khóa học sử dụng ontology, ...).

Keyword: AI nâng cao, ontology, lập trình trí tuệ nhân tạo, trí tuệ nhân tạo nâng cao, uit, lập trình, gsts hoang kiem, do van nhon, nguyen tuan dang

ung dung ontology tri tue nhan tao nhap mon ai nang cao uit